Tản mạn về nhà văn Võ Hồng

            vo-hongresizeresizeBài này tôi viết hơn 10 năm trước, giờ lang thang trên mạng, tìm lại được. Mừng như gặp lại người bạn cũ, càng nhớ lại những kí ức về một nhà văn mà tôi vô cùng kính trọng…

Lần đầu tôi đến thăm ông vào lúc chập chiều. Cứ tần ngần đứng trước cổng vắng, tự hỏi không biết gõ cửa vào giờ này có làm phiền ông không. Chợt nhìn thấy một miếng tôn nhỏ bằng ba ngón tay treo lủng lẳng bên lề cổng ghi rõ “kéo dây gọi Võ Hồng”. Sợi dây chạy ngoằn ngoèo mất hút sau vòm cây ô-ma trĩu quả. Ngộ nghĩnh đến bất ngờ. Tôi nắm dây kéo nhẹ. Rồi chờ. Rồi lại kéo nhẹ. Rồi chờ. Hóa ra đầu dây dẫn đến một chùm hai ba cái ống bơ treo ở đầu nhà đang đong đưa. Không nghe tiếng “chuông”. Chợt mỉm cười trước tác phẩm chưa hoàn chỉnh ấy của ông, đành phải lên tiếng gọi.

            Tôi hình dung ông hẳn phải sống giữa thiên nhiên, thiên nhiên theo ông vào tận phòng làm việc. Sẽ có những chậu cây cảnh, trên tường treo những bức tranh tĩnh vật, những kệ sách đồ sộ, một chiếc bàn viết mà tôi đinh ninh nhất định phải bằng mây.

            Ông sống một mình trên căn gác nhỏ. Trong phòng bề bộn sách vở báo chí. Không có hoa, cũng chẳng có tranh tĩnh vật. Ông giới thiệu các “nhân vật” mà tôi đã từng được làm quen trên những trang sách ông viết. Bờ dừa, bụi trúc, cây khế, ô-ma… toàn là “cây của hàng xóm”. Cha, thế mà ông cụ lại gọi là “khu vườn của tôi”, thật không công bằng.

            Ông là người mến khách và câu chuyện cứ lan man, chuyện học hành của con trẻ, chuyện nghề dạy học, chuyện đời, chuyện văn… Ông kể về tờ giấy bạc rách mà cô thủ quỹ phát lương đã nhất định không chịu đổi lại cho khách hàng tờ bạc lành. Người nhận tiền hôm sau ra chợ phải kẹp tờ bạc xấu số ấy vào những tờ bạc khác. Tờ giấy bạc bắt đầu cuộc hành trình trong sự dối nhau. Khi kể điều đó, ông nổi giận thực sự.

            Ít khi ông nói về công việc viết lách, ông vẫn tự giễu mình là “điếc không sợ súng”vì hễ cầm bút định viết điều gì đó thì dã có nhiều người viết trước rồi.Ông đi tìm cái riêng của chính mình, một cái “riêng không trôi chảy”.  Muốn tả một đôi mắt, ông cứ loay hoay mãi. Cho đến một sáng mùa Ðông, qua khe cửa, ông chợt nhìn thấy một giọt sương đêm đang ánh lên chiếc lá mãng cầu. Ông lại bàn, tìm cái khoảng trống trong tập bản thảo mà từ lâu cứ làm ông trăn trở… Cả đời sống cận kề với biển, đêm nằm ở nhà, ông có thể nghe rõ tiếng sóng biển âm ì. Xưa nay bao nhiêu người viết về những đợt sóng lấp lánh vỡ vụn dưới ánh mặt trời, về những cánh chim biển chao liệng. Ông muốn tìm ra một điều gì đó của riêng ông. Và thế là có hôm ông ngồi hàng giờ liền trước biển để rồi… về không.

            Tôi mang ơn ông khi phát hiện ra một sắc thái mới mẻ của một từ đã mòn cũ và xấu xí, “tham lam“. Ông viết về người cha vụng về, bỡ ngỡ trước đứa con đầu lòng. Khi cúng đầy tháng, cha châm hương đốt đèn, thành kính cầu xin mụ Bà  và tham lam cầu khẩn thần linh phù hộ cho con mau ăn, chóng lớn. Có lẽ lần đầu tiên, lần trọng đại nhất trong đời mà cha trọn lòng nghĩ đến những vị thần linh. Vì con mà tin mà khấn, mà cầu, cho dầu mang tiếng mê tín cũng xin sẵn sàng vui nhận.

            Nói chuyện với ông, nhiều lúc tôi xót xa nghĩ về sự học hành hời hợt của nhiều người trí thức trong thế hệ mình. Cái vốn ngoại ngữ nghèo nàn, khô cứng lại bị đóng khung bởi những sự thỏa mãn trong nhu cầu chuyên môn của mình. Ông không thờ cúng, không đi lễ nhà thờ tuy ở đầu giường có những  cuốn kinh thánh bằng tiếng anh hay tiếng pháp. Ngày Vu Lan ông gợi nhớ về lòng nhân ái tựa biển, trải khắp bao la trong tiếng chuông ngân vang của ngày lễ.

            Sáng nay tôi dậy sớm, chong đèn đọc lại Mùa xuân nghe tiếng chim. Có điều gì đó thật xúc động đằng sau những câu chữ giản dị trong sáng ấy. Những điều ông viết lan man đến “nhảm nhí” và thật “viễn vông” nhưng xiết bao cần thiết cho cuộc sống này. Suốt đêm trời mưa lách tách. Tảng sáng tôi mở cửa, ngẩn ngơ trước bầu trời xám bạc với những đám mây đậm đặc và nhạt loãng như khói cứ vần vũ trên nền trời. Dưới gầm trời này biết bao sự cố nóng bỏng của đất nước, của thế giới cứ diễn ra mỗi ngày. Chiến tranh, hòa bình, những cuộc bể dâu. Nhưng từ thuở hồng hoang những giọt sương vẫn lung linh, tỏa lạnh như thế. Và màu tím của hoa khế đầu tường vẫn cũ như thế từ thuở xa xưa cho dẫu là một bông khế vừa hé nụ.

            Tự nhiên tôi khát khao muốn xem những trang viết về tiếng chim này sẽ còn đằm thắm, xúc động đến bao giờ…

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s