Giấc mơ Akhat jucar

                                                              Nguyễn Hoa Lư                                        
CYMERA_20131105_164618Ông nhẹ nhàng đi qua cuộc đời đúng 10 năm. Suốt hơn 10 năm trước đó, ông lang thang trên những con đường mòn heo hút của vùng núi Khánh Sơn. Di sản của ông để lại không nhiều, những người trẻ tuổi vì vậy ít biết về ông.
Tuy vậy, giữa thời buổi có quá nhiều những tên tuổi tiếng tăm rổn rảng như chiêng như mỏ hoặc quá lắm kẻ thành thục món công lực thiết diện bì để đục khoét hay hưởng lạc, tôi nhớ về ông như nhớ về một hiền nhân ngày càng ít có trên đời..
Ông là nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Thế Sang.

1.Căn gác gỗ hơn 30 m2, hiên trước nhìn xuống phố Nguyễn Trãi ngày đêm ồn ào chát chúa tiếng người tiếng xe. Hiên sau, thấp thoáng qua những chậu bonsai xanh mướt là khoảng không tháng đãng và yên tĩnh. Dưới mái hiên nhỏ này sớm chiều vẵng lại tiếng chuông đồng hồ đỉnh đạc từ nhà thờ Đá ở gần đó, có cả tiếng chuông chùa từ núi xa lan trong không gian nghe mơ hồ như tiếng của một loài chim lạ .

Chủ căn gác, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Thế Sang, một ông lão dong dõng cao, trán rộng, tóc bạc phơ lưa thưa rũ xuống gần chấm vai. Sau làn khói thuốc dày đặc, ông nheo mắt nhìn tôi, cái nhìn lấp lánh thứ ánh sáng linh động. Ông mỉm cười nói:

-Hiên trước là cuộc sống sần sùi thô ráp. Hiên sau là những giấc mơ thanh bình, có bóng chiều lồng lộng và những ngôi sao đêm.

Trong thư phòng hẹp và ngăn nắp, bên cạnh những giá sách cao chất ngất là một bộ sưu tập các vật dụng đặc trưng của dân tộc Raglai. Bộ đàn đá với những thanh đá dài, mảnh được kết song song bên nhau treo trên một giá gỗ, mấy cây ná cong vút, những cây tiêu cây sáo lớn nhỏ đủ cở, những con rựa có cán dài ngoẵng đen bóng, chiếc chiêng đồng nham nhở thô ráp… Mỗi món đồ là một kỹ vật, một câu chuyện lý thú của riêng ông, chúng theo ông về đây sau những chuyến đi điền dã.

Hàng chục năm ông khoác ba lô lang thang khắp các làng bản, núi rừng khe suối Khánh Sơn. Những chồng băng ghi âm, những tập bản thảo truyện cổ, phong tục, những bộ sử thi Raglai cứ âm thầm, nhẫn nại dày dần lên theo năm tháng.

2. Một trong những nét độc đáo của văn hóa Raglai là những trường ca- sử thi, người Raglai gọi là akhat ter, dài tưởng như bất tận. Những bộ sử thi này được truyền từ đời này qua đời khác qua lối hát nói theo điệu siri.

Chìm sau làn khói thuốc như lớp sương mù dày đặc, gương mặt ông đen nhọn, cái nhìn trong sáng và tinh anh như mắt chim ưng:

-Ngồi với những người Raglai qua nhiều đêm trắng, bên bếp lửa và ché rượu cần, chìm đắm trong những câu hát mộc mạc, đầy quyến rũ tôi đã bắt đầu hiểu được phần nào sự huyền diệu của cuộc sống, sức sống bền bỉ của một dân tộc… Có những bộ sử thi, như cách nói của các già làng “hát từ lúc sao Hôm mọc trước cửa đến lúc sao Mai rực cháy ở cuối rừng, bảy đêm như vậy thì hát hết”.

CYMERA_20131105_164645Trong huyết thống của người Raglai có một dòng chảy vô hình nhưng bền bỉ và mãnh liệt từ cổ xưa, qua bao nhiêu thế hệ, để một người đàn bà ngày ngày đi nương có thể thuộc lòng hàng ngàn câu hát. Những câu hát đã ngấm vào họ từ lúc còn trong bụng mẹ, từ lúc còn là đứa trẻ nằm trong gùi mẹ lên nương. Trong lời hát có âm hưởng của những trận gió ào ào qua rừng, có tiếng suối chảy, có tiếng reo của những ngọn lửa trong bếp… Họ thuộc từ muôn kiếp trước, đến lượt mình, lại truyền cho thế hệ sau cũng với cái cách thức cổ xưa ấy.

Dường như có ngọn gió núi lọt vào phòng rung nhẹ những sợi tóc buông lơi trên đôi vai xương xẩu kia, ngọn gió như thổi về từ những ngọn núi xa, thoảng thơm hương tô hạp, ở đó có những ché rượu, nồng nàn tiếng hát theo điệu siri. Trong khảnh khắc đó, trông ông như một đạo sĩ vừa trở về từ một xứ sở huyền hoặc nào đó trên núi cao.

3. Đầu mùa hè 2001, trong chuyến lên Khánh Sơn công tác tôi gặp ông cũng đang bắt đầu chuyến điền dã thường lệ của mình. Mỗi sáng, tôi vẫn quen nhìn thấy ông khoác ba lô, lĩnh kỉnh chiếc máy hình cũ kỹ to đùng trước ngực, chiếc máy thu âm bên hông theo lối mòn đầy sương sớm, băng qua con suối lạnh đi về phía Sơn Lâm. Có chuyến đi vài ngày, có chuyến lâu hơn.

Một sáng, tôi theo ông đi xuống con lộ lớn, ông vẫy tay, quá giang một thanh niên lái chiếc chiếc máy cày đi về phía Hòn Gầm. Tiếng máy nổ inh tai, bụi đường cuốn mù mịt, “bác tài” trẻ măng, đen bóng, mắt sáng, nụ cười mở rộng oang oang hét: “A ma Sang lên hồi nào vậy?”.

Ông nói với tôi sẽ đi vài ngày, vậy mà lúc chập tối hôm đó, tôi gặp ông chậm chạp đi lên từ phía cuối con dốc. Mặt đen xạm lại, quần áo đầy bụi đỏ, ông khoát tay: “Hỏng hết cả rồi, gần 11 giờ trưa, vừa lên đến nơi thì đám trẻ con xúm lại bảo Ama Kí về trời rồi”.

– Theo lũ trẻ con vào căn nhà lá, chẳng có gì cả ngoài mấy cái xoong nồi nằm lăn lóc trên nền nhà đất, mấy bộ quần áo cũ vắt trên dây phơi. Ama Kí mất rồi, mang theo cả ngàn câu hát chưa kịp thu băng.

Tôi lóc cóc theo ông đi về nhà nghỉ.

-Điều tôi đau nhất là gì cậu biết không?

Không đợi tôi trả lời, ông tiếp:

-Đó là lúc tôi đứng giữa căn nhà trống hoác, nhìn lên vách thấy mấy tờ lịch treo tường, toàn hình người mẫu áo tắm uốn éo với những nụ cười vô hồn.

Chúng tôi ngồi yên lặng nhìn ra cửa sổ. Phía trước nhà, cánh rừng thông ngút ngàn sâu thẳm đang chìm dần trong màn sương chiều tĩnh mịch. Phía dưới con dốc đi lên những bóng người lẻ tẻ, lặng im. Từ nương rẫy, họ trở về nhà, cái gùi đè nặng lên lưng. Trên cái nền âm u của núi rừng, những bóng người đặc quánh lại như một thứ trầm tích hiếm hoi của một nền văn hóa cổ xưa.

Ông nói như đang độc thoại:

          –Những con người thầm lặng kia, ta mang ơn và mắc nợ họ nhiều quá. Hai cuộc chiến tranh đi qua, những báo cáo thống kê, những con số những tên người không thể kể hết sự mất mát mà người Raglai chịu đựng. Bây giờ, khi chiến tranh đã lùi xa mà ngày mỗi ngày cứ mất dần đi bao nhiêu giá trị tinh thần tích tụ ngàn đời nay, ai có thể kể ra hết được?

Ông bật đèn, trên bàn là bản thảo song ngữ bộ sử thi akhat jucar cả ngàn trang dày cộp.

“Hai vợ chồng cưỡi ngựa trắng  ngựa vàng/Tiếng lục lạc rền vang/ Mịt mù bụi cuốn/ Bóng ngựa khuất xa…”.

“Hai chị em cởi váy cởi áo/ Em nhìn chị, chị nhìn em/ Mắt long lanh như sương trên lá/ Vóc người mảnh mai, chân dài thon thả/ Tóc xỏa lưng eo, ngực nở vun cao/ Uyển chuyển đôi chân, mềm mại tấm thân…”.

          Thật lạ lùng, những con người hàng ngày thầm lặng đen đủi và hiền lành như củ mài củ sắn, mà sao những giấc mơ của họ lại rộn rã, huy hoàng và tráng lệ đến vậy.

-Ngày mai tôi phải sang Ba Cụm Bắc, Pi năng Huy vừa nhắn sang khui ché rượu cần. Dù sao thì tối mai cũng sẽ được say cùng bà con một bữa. Cậu sẽ đi theo tôi chứ, làm sao dững dưng được với lời mời quyến rũ thế kia.

Tôi theo ông đi dạo phố. Cả thị trấn chỉ có một con phố chính. Từ quán cà phê cuối phố dội ra xập xình tiếng nhạc, tiếng hát ré lên. Ông kéo tay tôi, nói gọn lỏn “về thôi”. Chúng tôi đi vào một con đường dốc, hẹp, đầy đá và sực nức hương cỏ dại. Mây đen bất chợt đùng đùng kéo đến, chớp rạch xanh lè, mưa xối như thác. Chúng tôi nép vào một hiên nhà trú mưa. Mưa ngừng đột ngột, sao trời lóe lên như đốm lửa xanh ngời ngời trên đỉnh núi đen thẩm. Từ trong nhà vẳng ra tiếng ru con. Tôi không hiểu lời ru nhưng những âm điệu ấm áp của lời hát dâng lên tràn ngập trong tim tôi cảm giác gần gũi và xiết bao ấm áp. Quay về phía ông, tôi nhìn thấy chiếc máy ghi âm đang chạy, trong đêm tối, những tín hiệu đang lóe sáng nhấp nháy.

Ông chỉ tay về phía Dốc Gạo, hẹn với tôi về một chuyến đi khảo sát “xưởng chế tác đàn đá của người cổ đại” trên đó.

Nhưng tôi không có cái may mắn theo ông lên Dốc Gạo, ông đau và mất sau đó hai năm.

4. Nguyễn Thế Sang thực sự là một con người mơ mộng. Tôi nhớ có lần, ngồi bên quán cóc ven đường phố Nha Trang, ông trầm ngâm ngước nhìn những vòm cây cổ thụ xanh um, ao ước cấy lên đó những khóm lan rừng. Bên hè phố gấp gáp nhịp sống bon chen, ông ngồi mơ về những chùm hoa lan đong đưa và quả quyết rằng hương thơm mong manh của loài hoa ấy sẽ níu chặt áo du khách, khiến họ quyến luyến không nỡ rời xa Nha Trang.

Tôi đã từng nhìn ông bỏ mấy ngày trời đi dọc theo triền sông Tô Hạp. Con sông mang tên một loài cây cuồn cuồn chảy về phía mặt trời lặn. Ông mơ về những cánh rừng tô hạp, những nương rẫy với nhiều cây trái đặc trưng. Ông nói về cây mía tím, về giống sầu riêng đang được Sở khoa học công nghệ đem lên trồng thí nghiệm vài năm nay. Bảy năm sau ngày ông ra đi, cả huyện Khánh Sơn có đến 300 ha trồng mía tím. Cây sầu riêng thì được trồng trên diện tích 700 ha. Mía tím và sầu riêng Khánh Sơn đã nổi danh khắp nước. Vậy mà vị ngọt dòn của cây mía tím, mùi thơm ngon đầy quyến rũ của những trái sầu riêng trên vùng đất này ông chưa được nếm.

Ông đã lên kế hoạch cho cả đời mình, hoàn thành tổng tập văn hóa Raglai. Đó là một công trình quá đồ sộ bao gồm những sưu tập, nghiên cứu về truyện cổ, trường ca, câu đố, tục ngữ, những luật tục, phong tục, lễ hội, những nhạc cụ, điệu hát…

Tất cả đang dang dỡ thì ông ra đi.

Đó là một ngày cuối tháng Tư năm 2003, trên những triều núi vàng rực nắng Khánh Sơn, cây tô hạp đang mùa ra hoa. Những thân cây lực lưỡng cao ba bốn chục mét nở hoa ướp thơm đám mây trắng đang lững lờ trôi qua những ngọn núi xanh mướt đi về phía xa xăm, nơi rộn ràng điệu hát si ri mê hoặc và lộng lẫy giấc mơ Akha Jucar bất tử.

Nha Trang tháng 10 năm 2011

Advertisements

3 thoughts on “Giấc mơ Akhat jucar

  1. Pingback: Anhbasam Điểm Tin thứ Tư, 30-10-2013 | doithoaionline

  2. Pingback: Thứ Tư, 30-10-2013 | Dahanhkhach's Blog

  3. Pingback: NHẬT BÁO BA SÀM : TIN THỨ TƯ 30-10-2013 | Ngoclinhvugia's Blog

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s