Khi nhân vật nhảy ra khỏi trang sách “phản ứng gay gắt” tác giả

images1. Trong nền văn học và lịch sử đương đại Việt Nam, có lẽ khó có tác phẩm nào vượt qua “Bên thắng cuộc” về số lượng nhân vật. Hai tập sách BTC với cả trăm nhân vật quan trọng, những người nắm giữ vận mệnh của sơn hà xã tắc hoặc góp phần lèo lái dân tộc này trong hành trình đơn độc đi lên XHCN đầy vinh quang nhưng mịt mù sương khói của những ảo ảnh. BTC có vô số nhân vật không thuộc về lịch sử nhưng do sự đỏng đảnh của “con Tạo” mà số phận họ “xoay vần” vào những cơn lốc vẫn còn  nồng nặc mùi thuốc súng sau chiến tranh. Hoàn toàn vô tình, họ ngẫu nhiên trở thành những nhân chứng sống, những người trong cuộc để rồi gặp nhau trong BTC.

Vậy nên ngay sau ngày phát hành, BTC trở thành một hiện tượng với nhiều những lời khen chê đa chiều. Cái sự “nói lại” là một điều bình thường. Ngay cả khi quân ta viết về quân mình, giới hạn một chiến dịch, mà khi sách ra vẫn có đồng đội cũ lên án là “đạo văn, bịa sử”[1] đó sao.

Cựu đại tá quân đội Cộng sản Bùi Tín, một nhân vật của BTC, khẳng định BTC chỉ phản ánh khoảng 1/3 sự thật. Dù “tiêu chuẩn” về sự thật của vị cựu phó tổng biên tập báo Nhân Dân này như thế nào, những đau thương của dân tộc này trong hơn 30 năm, dù có “chặt hết trúc Nam Sơn” cũng khó ghi hết chuyện.

Trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập về nhà báo Lưu Đình Triều, một nhân vật của BTC, người đã viết bài[2] , trả lời phỏng vấn[3] , gay gắt nói rằng Huy Đức viết “không đầy đủ nên làm sai lệch bản chất” khiến “người đọc ngộ nhận và làm thương tổn tôi và gia đình”.
BTC đưa ra một nhận định và lấy là gia đình Lưu Đình Triều làm một ví dụ minh họa. Tác giả Huy Đức đinh ninh giữa hai cha con Lưu Đình Triều có một “hố sâu ngăn cách”, người trong cuộc lại cực lực phản đối. Ai đúng, ai sai?

Tôi là kẻ thứ ba, hoàn toàn không quen biết gì với cả tác giả lẫn nhân vật của ông. Một kẻ nghe hơi nồi chõ dám đứng ra phân định đúng sai trong trường hợp này nghe ra có vẻ thật nực cười.

Thuở xưa, hai người bạn là Trang Tử và Huệ Tử cùng dạo chơi bên bờ hào, cùng ngắm nhìn đàn cá tung tăng bơi lội dưới làn nước trong vắt. Trang Tử thốt lên: “Ông Huệ xem kìa, lũ cá mới vui vẻ thảnh thơi làm sao!”. Huệ Tử bắt lỗi bạn: “Ông không phải là cá, sao biết cá đang vui vẻ”. Trang không phải tay vừa, “phản pháo” ngay: “Ông không phải là tôi, sao ông biết tôi không thể biết là lũ cá đang vui”.

Kể câu chuyện ngụ ngôn quen thuộc trên để độc giả không nghi ngờ thành ý của người viết. Thực sự, để phân xử sự đúng sai cần có một chút kiên nhẫn.

2. “Bài ca Xuân 61” là một đỉnh cao của nhà thơ cách mạng Tố Hữu, trong hàng chục năm, bài thơ được đưa SGK để giảng dạy cho học sinh. Cảm hứng lãng mạn cách mạng trong bài thơ tràn ngập hàng triệu con tim tuổi trẻ một thời. Độc giả thời nay chắc hoài nghi về tính chân thật của những câu thơ thế này:

Anh nắm tay em, sôi nổi, vụng về
Mà nói vậy: “Trái tim anh đó
Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ:
Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều
Phần cho thơ, và phần để em yêu…”
Em xấu hổ: “Thế cũng nhiều anh nhỉ!”
Rồi hai đứa hôn nhau, hai người đồng chí…

Tố Hữu còn là tác giả bài thơ “tai tiếng” có tên “Đời đời nhớ ông”, ca ngợi Stalin. Trong bài thơ có câu:

Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin!

Hay đoạn khóc Stalin:

Ông Stalin ơi, Ông Stalin ơi!
Hỡi ơi, Ông mất! đất trời có không?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương Ông thương mười.

Trần Mạnh Hảo nhận định đây là bài thơ vong bản nhất trong nền thơ ca Việt từ thuở hồng hoang đến nay. Nhận định đó cay độc quá không, bởi trong thời chiến tranh, khi “Việt Nam có bác Hồ/ Thế giới có Stalin” thì đó là một “hiện thực cách mạng”.

Cả miền Bắc hừng hực khí thế “thề hy sinh đến cùng, cầm gươm ôm súng xốc tới” trong những bài hát tập thể cất lên trước mỗi buổi mít tinh hay hội họp. Học sinh đến trường, tuổi 13 -14, trước mỗi giờ vào lớp đều thi nhau hát đến khản tiếng “Ôi xương tan máu rơi lòng hận thù ngút trời/ Sông núi bao nhiêu năm cắt rời…”.

Một nhà thơ có con trai đang chiến đấu ngoài mặt trận, đã sáu tháng không nhận được tin con. Đó là thời kỳ Mậu Thân kinh hoàng. Nhớ thương con, ông viết bài thơ đăng trên báo Văn Nghệ. Bài thơ gồm bốn câu như sau. “Sáu tháng bặt thư con/ Chiến trường ngày đánh lớn/ Chẳng muốn hỏi gì hơn/ Chỉ mừng tin thắng trận”. Tình người cha “sắt đá” đến thế ư? Thật khó tin nếu không đi qua thời máu lửa đó[4] . Tác giả bài thơ “Đợi thư con” là Chế Lan Viên[5] , một trong những nhà thơ hàng đầu của nền thơ ca Việt Nam hiện đại.

Một cuốn tiểu thuyết cũng được đưa vào dạy học trong trường phổ thông, cuốn “Hòn Đất” của nhà văn Anh Đức. Trong tác phẩm có nhân vật Cà Xợi, mẹ thiếu úy Xăm, kẻ uống máu người không tanh. Sau bữa chặt đầu chị Sứ, gã ghé về nhà. Bà mẹ mua rượu, làm thịt gà cho con uống say, lấy mã tấu định “xử lý”. Bản năng người mẹ khiến bà kịp buông dao, đi ra ngoài để du kích vào nhà chặt đầu đứa con trai.

Thanh niên ra trận thời đó vẫn chép trong ba lô bức thư Ruồi Trâu từ trong ngục tối gửi “Dim thân yêu”. Ruồi Trâu là một hình mẫu cho các thế hệ thanh niên Xô Viết và Việt Nam. Nét quyến rũ của Ruồi Trâu là sự kiên cường giấu tình cảm riêng với cha (Đức hồng y giáo chủ Mông-ta-ne-li) và người yêu (Giê-ma) tận đến trước ngày ra pháp trường.
Người Cộng sản đã thành công trong việc xây dựng chuẩn mực đạo đức xã hội cho thanh niên thời đó. “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”. Những toan tính cá nhân, những lo lắng cho gia đình riêng là ích kỷ, lạc hậu, phản động!

4. Quay lại với câu chuyện về gia đình Lưu Đình Triều được viết trong chương “Cải tạo”, mục “Đoàn tụ”. Nội dung mục “Đoàn tụ” khoảng 1500 chữ[6], có thể tóm tắt gồm hai luận đề và một số dẫn chứng thực tế.

Luận đề thứ nhất chỉ là hai câu ngắn: “Có lẽ không mấy gia đình ở miền Nam không đồng thời có người thân vừa ở bên này vừa ở bên kia. Và có lẽ không có ở đâu, ý thức hệ lại chia cắt tình thân đến thế”. Tác giả dẫn ra 4 ví dụ.

Ông Tư Bôn, giám đóc Việt Nam Tổng phát hành, cậu ruột ông Bôn là một nhà cách mạng có tiếng, ông Mai Văn Bộ. Ông Bôn vẫn phải vô tù.

Nhà văn Doãn Quốc Sĩ, con rể nhà thơ Tú Mỡ, em ruột nhạc sĩ Doãn Nho, bị tù 14 năm.

Trung Tá Phan Lạc Phúc có em ruột đi theo Mặt trận Dân tộc Giải phóng, hơn 10 năm cải tạo.

Đại úy dù Phan Nhật Nam, con trai một sĩ quan tình báo, có công với Việt Minh. Từ năm 1981, Phan Nhật Nam bị cùm trong phòng biệt giam. Người cha vất vả xin vào thăm con. Hai cha con gặp nhau 15 phút, sau hơn 30 xa cách.

Luận đề thứ hai gồm ba câu: “Cũng có không ít quan chức Cách mạng thay vì bảo lãnh, đã vận động ngay chính những người trong gia đình mình đi “học tập”. Có người muốn chứng minh với Đảng sự “chí công vô tư”. Có người tin là cần thiết với người thân của họ”. Hai ví dụ minh họa cho luận đề này.

Câu chuyện của gia đình Lưu Quý Kỳ, vụ trưởng báo chí Ban tuyên huấn Trung ương kiêm tổng thư ký Hội Nha báo. Năm 1954, hai vợ chồng ông Lưu Quý Kỳ tập kết ra Bắc, để lại Lưu Đình Triều mới 1 tuổi và chị gái ba tuổi cho bà ngoại nuôi. Triều lớn lên như những đứa trẻ mồ côi. Đi học, đi lính, làm Thiếu úy Việt Nam Cộng Hòa. 20 năm sau, gia đình “đoàn tụ”. Huy Đức viết: “ngay trong ngày gặp lại, Lưu Đình Triều đã cảm nhận được một “hố sâu thực sự””. Triều đi học tập cải tạo. Với cương vị của mình, người cha có thế bảo lãnh cho “đứa con trai độc nhất”. Ông đã không làm, còn viết thư khuyên con “cố gắng học tập tốt”. Người con đọc thư cha, vừa xé vừa cay đắng khóc.

Chuyện của ông Trần Quốc Hương, một nhà chỉ huy tình báo kiệt xuất, từng là cấp trên của “ông cố vấn” Vũ Ngọc Nhạ và nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn. Ông Hương xin cho hai anh em là thiếu úy Việt Nam Cộng hòa, con cán bộ tình báo Tư Câu, đang từ trại cải tạo “được về để tang cha rồi vào lại trại”. Vậy mà sau đó ông Hương bị các đồng chí kể tội.

Trong BTC, Huy Đức không khẳng định nhà báo Lưu Quý Kỳ thuộc dạng người nào, là người chí công vô tư hay người có niềm tin về sự cần thiết cải tạo con trai hay ông là cả hai dạng người trên[7] .

Hàng triệu gia đình “đoàn tụ” trong nước mắt và âm thầm có một hố sâu ngắn cách[8] . Tôi, người viết bài này, đứa cháu “bên thắng cuộc”, sau ngày Giải phóng vào Nam gặp ông nội và gia đình người chú. Bây giờ, sau gần 40 năm, anh em con chú con bác mỗi dịp hàn huyên, tự trong xâu xa của lòng mình, tôi vẫn thấy một điều gì đó không thanh thản trước sự thiệt thòi mà những người con của chú tôi phải gánh chịu.

5. Lưu Đình Triều gay gắt nói rằng Huy Đức đã “cắt cúp” theo chủ kiến riêng của mình[9]. Ông nói: Huy Đức à! “Một nửa cái bánh mì vẫn là cái bánh mì, nhưng một nửa sự thật không phải là sự thật”. Tôi tin Huy Đức cũng biết điều này. Thế nhưng, với tôi (và còn ai nữa?) tại sao anh lại “va vấp” một cách đáng tiếc như thế?

Lưu nhà báo, do bản năng tự vệ trước một tin nhắn lạ “Xin chào thiếu úy Việt Nam cộng hòa! He he” và sau đó là dư luận từ một số nhà báo quốc doanh mà mất bình tĩnh.

Bởi vì, người cha trong BTC có quyền được người đọc kính trọng bởi ông đã sống đúng với “lý tưởng của thời đại” mà ông phụng sự.

Bởi vì người con của bên thua trận có quyền được người đọc thông cảm và chia sẻ cảm giác “cô đơn” trước khúc quanh lớn của cuộc đời mình. Lưu Đình Triều nói: “Cảm giác cô đơn ấy, mãi đến hai năm sau tôi mới thật sự giũ bỏ”. Trong hoàn cảnh đó không có “hố sâu ngăn cách” mới là lạ lùng, không đáng tin .

Qua BTC, nỗi đau “đoàn tụ” của một gia đình được khắc vào vĩnh cửu và Lưu Đình Triều nên cám ơn tác giả Huy Đức vậy!

 


[1] http://blog.zing.vn/jb/dt/tranmygiong/14218695?from=sortfull
Theo Lê bá Dương (người nổi tiếng với bài thơ Đò xuôi Thạch Hãn), một chiến hữu năm xưa của thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu: “Kẻ đạo văn- người bịa sử !, Hoàn toàn có thể nhận xét một cách khái quát như vậy khi đọc hết 690 trang hồi ức “Một thời Quảng Trị” của tác giả: thượng tướng, viện sĩ Nguyễn Huy Hiệu. Dĩ nhiên với nhận xét này sẽ gây sốc, thậm chí khó tin với những ai không sống cùng đơn vị với tác giả trong cùng không gian, thời gian diễn ra các sự kiện được dẫn trong cuốn sách này”.
.

[2] http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/530640/khong-ho-sau-thuc-su.html .

[3] http://antg.cand.com.vn/vi-VN/ktvhkh/2013/1/79988.cand .

[4] Nếu đó là “tác phẩm của một nhà thơ” thì Thái Bá Tân, trong thời gian ba bốn năm làm được cả vạn câu thơ với nghệ thuật vượt trội, tình cảm cũng chân thành hơn, hẳn phải được phong làm Thánh thơ .

[5] May thay, cuối đời ông đã nhìn nhận lại con đường nghệ thuật của mình. Như một lời thú tội, ông viết trong bài “Trừ đi” những câu thơ rất đau xót, mở đầu bằng mấy câu sau: “ Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ/ Có phải tôi viết đâu! Một nửa/ Cái cần đưa vào thơ, tôi đã giết rồi/ Giết một tiếng đau – giết một tiếng cười/ Giết một kỷ niệm – giết một ước mơ – tôi giết” .

[6] Huy Đức chỉ dành cho mục này 1500 chữ, 6 dẫn chứng. Một sự cô đúc quá không?
[7] Bây giờ nhìn lại, cách “đối nhân xử thế” của ông Lưu Quý Kỳ, ta phải phục rằng ông “hiểu Đảng”. Ông nhà báo đã “cao thủ” hơn một nhà tình báo tầm cở như Trần Quốc Hương .

[8] Một kỷ niệm năm được Lưu Đình Triều nhắc lại sau hơn 30 năm, cảm giác “nổi đầy gai ốc khi đưa tay thề nguyện dưới lá cờ Đoàn”, khiến tôi kẻ ngoài cuộc cũng “nổi gai ốc” theo! .

[9] Thực sự, bài viết của Lưu Đình Triều là một ví dụ sinh động cho sự cắt cúp vì bài báo dẫn lại BTC không đầy đủ, phiến diện .

Advertisements

8 thoughts on “Khi nhân vật nhảy ra khỏi trang sách “phản ứng gay gắt” tác giả

  1. Vấn đề Hoa Lư nêu ra trong BTC cũng là vấn đề chung của xã hội. Người ta có câu “đẹp tốt phô ra xấu xa đậy lại”, trong gia đình thì tránh “vạch áo cho người xem lưng”, vì vậy điều Huy Đức viết và Phan Đình Triều phản bác đều có thể xẩy ra theo logic của nó. Bây giờ bàn chuyện ai đúng hơn quả thật khó, vì đây là người thật việc còn cãi. Tất nhiên phải phán xét theo cái “lí” của thời cuộc để ngả về kết luận phía nào.

    Cái lí của thời chiến tranh để thống nhất Bắc Nam thật đặc biệt. Thời nay không thể chịu nổi nếu đọc cái tin người dân đem đồ gỗ chuẩn bị dựng nhà, sập gỗ … của nhà mình lót đường cho xe vận tải vào Nam. Cái lạ về lí thuyết “chủ nghĩa cộng sản” nó thôi miên con người thời đại đó đến vậy, đến nổi giỏi luật như cụ Nguyễn Mạnh Tường, giỏi triết như cụ Trần Đức Thảo, từng trải trời Âu mà ban đầu cũng bị mê hoặc thì việc ông Lưu Quý Kỳ xử sự với con cũng có lí của thời đó.

    Với chuyện của gia đình họ Lưu thì cách của Huy Đức trong BTC là hợp với cái “lí” của thời đại và đầy tính nhân bản.

    • Vậy nên nhà em dẫn chuyện người thật bàn chuyện cá đang bơi để đỡ đòn cho mình.
      Bác nói về cái sự mê hoặc của lí thuyết lạ khiến máy cụ cao thủ kia cũng gục ngã thật hay!

  2. Hoa Lư chọn điểm rơi cho BTC rất đắt!
    Phản ứng của Lưu Đình Triều là một điểm nhấn cho tác phẩm BTC. Phản ứng này như là một nhân chứng kép:
    – Hố ngăn cách có thật giữa thắng và thua (cha con)
    – Hố ngăn cách ở ngay giữa nhân vật, nó được làm rộng ra và nông đi theo thời gian và chụi sự ảnh hưởng của xã hội ( vì nêu nó không được nêu lên thì nhân vật đã chôn kín nó vĩnh viễn để cho cuộc sống được êm ả trôi).

  3. Tôi thấy BTC phản ánh thật sâu sắc bức tranh toàn cảnh một giai đoạn lịch sữ cận đại của VN. Tôi ủng hộ cái nhìn BTC, dưới sự kiểm duyệt (…)

  4. Tôi cũng có một bài viết về BTC trong đó hầu như tôi ủng hộ Huy Đức và phản bác lại những luận điểm bôi nhọ tác giả nhưng có một hay hai điều tôi không đồng ý với anh ta. Thế nhưng tôi gửi bài viết cho mấy ông tự nhận là dân chủ mà là những nhà dân chủ nổi tiếng chứ không phải mấy ông Hải ngoại và các ông dân chủ ấy lờ đi. Từ đấy tôi thực sự cũng mất lòng tin ở họ. Họ chỉ thích phản biện nhà nuốc và phản đối chuyện không đuộc cho phản biện nhưng lại cũng giống nhà nuốc chẳng muốn cho ai phản biện mình. Đấy là họ chưa nắm đuộc chính quyền còn vậy . Nếu nắm đuộc chính quyền rồi thì sao đây?
    Thôi thì tôi đành viết câu này của một nhà cách mạng
    Hỡi những người ta hằng yêu mến HÃY CẢNH GIÁC

  5. Cái quan trọng là viết những gì thật lòng mình nghĩ. Gác chuyện chính trị sang một bên, thiết nghĩ Tố Hữu là một thiên tài về vần điệu. Bài thơ sẽ vẫn hay nếu chỉ đổi chữ Đảng thành lý tưởng. Mà nói thật nếu Đảng làm cho dân giàu nước mạnh thì bài thơ cũng chẳng cần đổi làm gì:

    Anh nắm tay em, sôi nổi, vụng về
    Mà nói vậy: “Trái tim anh đó
    Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ:
    Anh dành cho lý tưởng phần nhiều
    Phần cho thơ, và phần để em yêu…”
    Em xấu hổ: “Thế cũng nhiều anh nhỉ!”
    Rồi hai đứa hôn nhau, hai người đồng chí …

    Hoặc thay tên Stalin bằng chữ Quê Hương chẳng hạn. Chỉ tội nghiệp cho rất nhiều các nhà văn, nhà thơ, nhà soạn nhạc đã quên rằng “quan nhất thời dân vạn đại”. Ca tụng cái gì thì ca tụng với những mỹ từ trừu tượng, đừng bó buộc vào một cá nhân, một sự kiện để rồi tác phẩm bị mai một, bị hất hủi mặc dù về niêm luật về tứ rất hay, rất trữ tình:

    Yêu biết mấy, nghe con tập nói
    Tiếng đầu lòng con gọi Quê Hương!

    Quê Hương ơi, Quê Hương ơi!
    Hỡi ơi, nước mất! đất trời có không?
    Thương cha, thương mẹ, thương chồng
    Thương mình thương một, Quê Hương thương mười.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s