TRẦN QUANG TRIỀU-người gìn giữ ngôi chùa tâm linh của quê hương

 

Thích Phước An

1434414167-nzimbac_co5_nrkvNHL: 9 giờ sáng mồng Một Tết, cùng gia đình xuất hành lên núi lễ Phật. Đường đến chùa đông nghẹt người và xe cộ. Quay sang đường Phương Sài cũng nhích từng bước. Tự nghĩ, nếu lên được chùa cũng chẳng khác chi vô trúng một chợ phiên. Đành quay về.

Mở email thầy Phước An, ngồi đọc bài về Trần Quang Triều. Tự thấy mình có duyên, được nghe nhà sư kể câu chuyện Trần Quang Triều. Thực lạ, là cháu nội của Hưng Đạo Vương, là anh vợ của đương kim hoàng thượng, Trần Quang Triều coi phú quý nhẹ như lông hồng, lặng lẽ tìm đến nhưng ngôi chùa, dưới mưa chiều hiu hắt, nhìn đám bướm hoang bay mà than về “khí đế vương triều xưa vùi dưới cỏ mùa Thu”. Các thái tử đảng ngày nay có phút tĩnh lặng nào ngồi đọc chuyện cha ông xưa không nhỉ?

Những câu chuyện và tâm tình rười rượi bóng mát của những ngôi cổ tự…

(Sáng mồng 2 Bính Thân)

Một lần nọ, Trần Quang Triều đứng nhìn nền gạch của một ngôi chùa xưa đổ nát hoang tàn, đang chìm ngập trong cơn mưa của một buổi chiều cuối thu. Trong lòng Trần Quang Triều như bỗng dâng trào lên một niềm xót xa vô hạn trước bao nhiêu tang thương dâu bể của cuộc đời:

Hoang thảo tiền triều tự

Thu phong cựu chiến trường

Tàn bi trầm mộ vũ

Cổ Phật ngọa tà dương

Thạch thất tàng vân nạp

Hoa đài cúng dã hương

Ứng thân vô xứ sở

Dữ thế cộng hưng vong

Ngôi chùa của triều đại trước lẫn giữa đám cỏ hoang

Bãi chiến trường xưa đang phơi mình trước gió thu.

Tấm bia Tàu chìm trong mưa chiều,

Pho tượng Phật cổ nằm phơi bóng xế

Tấm áo mây, đã cất trong ngôi nhà đá

Mùi hương đồng nội dâng lên đài hoa

Ứng thân không có chỗ nhất định

Với đời cùng hưng vong[1].

(Mai thôn phế tự)

Đọc bài thơ, ta có cảm tưởng như trong trái tim của Trần Quang Triều không phải chỉ có một buổi chiều thôi, mà dường như trong ông đang chất chứa cả một vạn buổi chiều:

Có phải sầu vạn cổ

Chất trong hồn chiều nay

Có lẽ phải mượn hai câu thơ trên của một thi sĩ Việt Nam hiện đại mới nói lên được hết cái sầu của Trần Quang Triều khi ông đứng nhìn ngôi chùa hoang tàn tại xóm Mai trong một buổi chiều thu cách đây đã gần 6 thế kỷ.

Nhưng Trần Quang Triều là một Phật Tử, nên ta thấy ông chỉ ngậm ngùi và thương cảm trước cuộc dâu bể thôi chứ không hề hoảng hốt sợ hãi. Vì Trần Quang Triều ý thức rất rõ rằng, có một cái đẹp vĩnh cửu, một cái đẹp không tàn phai, sau cái đẹp mong manh thoáng chốc của thời gian hữu hạn:

Ứng thân vô xứ sở

Dữ thế cộng hưng vong

Ứng thân không có chỗ nhất định

Với đời cùng hưng vong.

Tuy biết vậy, nhưng bởi lỡ mang trái tim đa cảm, nên những buổi chiều như sầu vạn thuở ấy cứ tiếp tục ám ảnh mãi trong những bài thơ của Trần Quang Triều:

Hà nhạc chung tồn cố quốc phi

Sổ hàng lăng bắc bối tà huy

Cựu thời vương khí mai thu thảo

Mộ vũ tiêu tiêu dã điệp phi

Sông núi rốt cuộc vẫn còn mà nước cũ đã đổi khác

Mấy hàng bách trồng trên gò đứng phơi lưng dưới nắng chiều

Khí đế vương triều xưa vùi dưới cỏ mùa thu,

Mưa chiều hiu hắt bướm nội bay[2].

(Trường An hoài cổ)

Một nhà phê bình văn học hiện đại đã cho rằng, bài thơ trên của Trần Quang Triều là “Gần như lấp lánh một dự báo thiên tài, một sự khái quát thẩm mỹ đi trước thời đại, báo hiệu sự suy vong không cưỡng nổi của nhà Trần”[3]

Những lời nhận định trên có thể chỉ đúng với cái nhìn của nhà phê bình văn học hoặc các nhà sử học thôi. Trên phương diện thi ca, tôi cho rằng cách nhìn như vậy đã vô tình đánh mất hồn thơ của những nghệ sĩ tài hoa, như tiếng thơ ở đây của Trần Quang Triều chẳng hạn.

Ta được biết Trần Quang Triều sinh năm 1286, là con cả của Trần Quốc Tảng và là cháu nội của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Vậy là đối với Trần Quang Triều thì những chiến thắng của Đông Bộ Đầu vào thời kỳ đánh đuổi quân Nguyên lần thứ nhất (1258) dưới thời Trần Thái Tông và tiếp đến những Tây Kết, Chương Dương, Bạch Đằng vào những năm 1285 và 1288 dưới thời Trần Nhân Tông đã chỉ còn là vang bóng của một thời. Nghĩa là nhà Trần dưới thời của Trần Anh Tông hay Trần Minh Tông mà Trần Quang Triều đang phục vụ tất nhiên đã không còn hùng mạnh nữa như dưới thời Trần Thái Tông, Thánh Tông và nhất là Trần Nhân Tông.

Nhưng với cái nhìn của thi nhân, thì không phải đợi đến khi nhìn thấy triều đại mình đang phục vụ bắt đầu suy tàn thì họ mới xót xa cho lẽ hưng vong của cuộc đời, mà trong họ mỗi một ngày trôi qua hay thậm chí đến cả một giây phút bâng quơ nào đó khi bất chợt nhìn thấy một hòn đá nằm trơ vơ dưới nắng chiều hiu hắt bên đường, thì trong họ dường như đã cảm nhận được nỗi đời hư ảo rồi:

Môn tiền cổ kiệt ngọa tà dương

Duyệt thế như lưu sự khả thương

Trước cửa quán hòn đá chởm nằm trơ trong nắng chiều

Ngắm sự đời, như nước chảy trôi đi và đi mất, thấy mà đau.

(Tô Đông Pha)

Tất nhiên bao giờ tiếng thơ của thi nhân cũng phản ảnh niềm đau khổ chung cũng như riêng đối với thời đại mà thi nhân đang sống. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà ta cứ bảo là Trần Quang Triều làm thơ để dự báo (hay thương cảm) cho nhà Trần của mình sắp suy vong, hoặc Nguyễn Du làm thơ là để thương tiếc cho nhà Lê đã mất (hoài Lê).

Nếu chúng ta cứ tiếp tục đem cái nhìn có tính cách trường ốc như vậy để giải thích thi ca thì chắc chắn chúng ta đã đánh mất không những hồn thơ mênh mông không chỉ riêng của Trần Quang Triều hay Nguyễn Du không thôi, mà chúng ta còn bóp chết biết bao tâm hồn thơ mộng của người đọc thi ca nữa.

Trần Tử Ngang, một thi hào đời Đường của Trung Quốc đã bày tỏ về quan điểm thi ca của ông: “Làm thơ là để gởi tấm lòng vào thiên cổ chứ không phải để phấn đấu cho tài ba trong nhất thời”.

Chính vì vậy, cho nên mặc dù đã đỗ đạt cao (tiến sĩ), làm quan đến chức Lân đài chính sự, rồi Hữu Thập Di, nghĩa là đường công danh thì chẳng có gì trắc trở cả. vậy mà, khi đứng trên đài U Châu, nhìn đất trời bao la, Trần Tử Ngang vẫn cảm thấy mình cô độc lạ thường:

Niệm thiên địa chi du du

Độc sảng nhiên nhi thế hạ

Ngẫm xem trời đất mênh mông,

Riêng một mình ta thương cảm mà rơi lệ.

Trần Tử Ngang mất năm 702. Từ đó đến nay đã hơn 12 thế kỷ rồi, vậy mà giọt lệ của Trần Tử Ngang vẫn còn đọng lại trên mắt của mọi con người ở mọi thời đại.

Ta có thể tin chắc rằng, trong những thế kỷ tới, con người rồi sẽ được du lịch ở một số hành tinh xa xôi, nhưng có lẽ giọt nước mắt của Trần Tử Ngang vẫn còn đó vì càng trông thấy vũ trụ bao la bao nhiêu thì con người lại càng cảm thấy thân phận mình nhỏ bé và lẻ loi bấy nhiêu.

Vậy là, vì không “phấn đấu tài ba trong nhất thời” mà Trần Tử Ngang mới có thể gởi được tấm lòng của mình vào thiên cổ chăng?

Dù rất được nhà Trần ưu đãi, mới có 14 tuổi đã được phong tước Văn Huệ Vương, lớn lên lại có công dẹp loạn Thích Na. Thế nhưng ta thấy Trần Quang Triều (cũng như những tâm hồn lớn khác) không bao giờ lấy đó làm thỏa mãn, mà ngược lại Trần Quang Triều còn khinh bỉ thứ lợi danh bọt bèo này nữa, thứ lợi danh mà biết bao con người tầm thường thèm muốn, nhưng chẳng bao giờ họ vói tới được:

Đồn lãng xuy triều thướng bích than

Lỗ thanh di nhập bích vân hàn

Kỷ hồi bạc nhị huyền chung đỉnh

Na trọng Đồng Giang nhất điếu can

Sóng cá dồn nước triều lên dòng thác biếc

Tiếng mái chèo đưa hơi lạnh vào mây xanh

Đã bao lần coi nhẹ miếng mồi treo chuông vạc

Mồi ấy đâu có nặng bằng chiếc cần câu bên sông Đống[4].

(Điếu tẩu)

Vì mang một tâm hồn như vậy, nên ta không lấy gì làm ngạc nhiên, khi thấy Trần Quang Triều luôn luôn cô độc giữa đám đông con người:

Quỷ ngộ niệm thù khinh

Nghĩ đến những cuộc gặp gỡ giả dối lòng càng coi nhẹ[5].

Vì vậy cho nên:

Quy tâm mộng tự vinh

Cho nên giấc mộng trở về cứ vương vấn mãi[6].

Trong số 11 bài thơ còn lại, thì ta thấy đã có đến 2 bài Trần Quang Triều nói đến khát vọng “trở về” rồi.

Nhưng có gì khác nhau giữa sự “trở về” của Trần Quang Triều và việc đi ở ẩn của các nhà Nho? Chắc phải có sự khác nhau. Sự khác nhau theo tôi như thế này: việc rút lui hoặc đi ở ẩn chỉ xảy ra khi nào họ cảm thấy thất bại trên con đường công danh sự nghiệp, hoặc không thực hiện được hoài bão của mình cho dân cho nước (như việc rút lui về ở ẩn của nhà Nho Chu Văn An chẳng hạn). Còn “trở về” có nghĩa là nhận thấy con đường mình đang đi không thích hợp với tâm hồn của mình. Vì nói cho cùng, thì có nhiều con đường để phục vụ cho quê hương đất nước, chứ không nhất thiết phải ra làm quan thì mới có thể thực hiện được lý tưởng ấy.

Và Trần Quang Triều đã lựa chọn con đường khác để phục vụ cho đất nước mà mình đang sống, mảnh đất mà ông đã yêu đến tha thiết vì theo ông nó có một vẻ đẹp rất đơn sơ và giản dị, giản dị đến nỗi mà cũng theo nhà thơ khó có một họa sĩ tài hoa nào có thể đưa được phong cảnh ấy vào bức tranh của mình:

Nam quốc na kham nhập họa đồ

Tân An trì quán trưởng cô bồ

Niên niên lãnh lãm nhàn phong nguyệt

Trúc ngoại nhất thanh đề giá cô

Phong cảnh nước Nam khó có thể đưa vào trong tranh vẽ

Trong ao bên quán Tân An cỏ năn, cỏ lác mọc

Hàng năm thâu lượm cảnh trăng gió thảnh thơi

Ngoài rặng trúc, một tiếng chim đa đa kêu[7].

(Liêu Nguyên Long Tống họa cảnh phiến)

Nơi mà Trần Quang Triều muốn trở về ấy có phải là ngôi chùa chăng?

Sách Tam Tổ Thực Lục cho biết, tháng chạp năm 1317 khi bắt đầu tu tạo lại chùa Quỳnh Lâm. Văn Huệ Vương Trần Quang Triều đã làm thí chủ và cúng 4.000 tiền, bia chùa Quỳnh Lâm thì chép số tiền này lên đến 40 vạn quan. Rồi đến tháng chạp năm 1324, lại cũng sách Tam Tổ Thực Lục lại ghi thêm: Trần Quang Triều còn cúng 300 mẫu ruộng ở Gia Lâm, cùng số ruộng ở hai trang trại Động Gia và An Lưu, tổng cộng hơn 1.000 mẫu, và hơn 1.000 nô tỳ để làm của Tam Bảo vĩnh viễn cho chùa Quỳnh Lâm[8].

Xưa nay thường chỉ có giới vua chúa và quý tộc hay những người giàu có mới bỏ tiền ra để xây dựng chùa chiền, vậy mà Trần Quang Triều, một tri thức và một nhà thơ lớn đương thời đã bỏ cả gia sản ra để xây dựng chùa Quỳnh Lâm, thì ta có thể thấy tấm lòng của ông tha thiết cho nơi chốn mà ông muốn trở về ấy biết chừng nào!

Là một nhà trí thức lớn của thời đại, nên tất nhiên Trần Quang Triều ý thức rất rõ vị trí của ngôi chùa trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Vì chẳng phải ngôi chùa đã đứng ra hướng dẫn dân tộc trong những ngày đầu mở nước, nên ngay khi Lý Nam Đế (544-548) lên ngôi, đã lập lên ngôi chùa có tên là chùa Mở nước (Khai Quốc, tức chùa Trấn Quốc ngày nay đó sao?)

Và cũng chính từ ngôi chùa mà sau hơn 1.000 năm lệ thuộc bị xem như “man-di”, thì lần đầu tiên một nhà trí thức hàng đầu của “Thiên triều” đã phải thừa nhận công khai rằng, Thiên tử của nước Đại Việt cũng chẳng khác gì Thiên tử của nước họ qua hai câu thơ của sứ Tống Lý Giác:

Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu

Khê đàm ba tịnh kiến thiềm thu

Ngoài trời lại có trời soi rạng

Vừng nguyệt trong in ngọn sóng đầm.

Giả sử nếu không có Khuông Việt thiền sư chùa Cát Lợi và Pháp Thuận của chùa Cổ Sơn thì biết đến bao giờ dân tộc mới ngẩng đầu lên được như vậy?

Năm 1010, Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long (Hà Nội) trong chiếu dời đô có đoạn viết: “Để mưu cầu chỗ chính giữa làm kế cho con cháu muôn đời(…) vận nước lâu bền, phong tục giàu thịnh…. ” phải được nuôi dưỡng và giáo dục từ nền văn hóa của Phật giáo, nên Lý Công Uẩn mới có tầm nhìn chiến lược của một chính trị gia lỗi lạc như vậy. Nhưng quan trọng hơn cả là, chính tinh thần từ bi đã hun đúc từ thời thơ ấu ở chùa Lục Tổ nên Lý Công Uẩn mới thể hiện tình thương dân thương nước, không phải chỉ có dân và nước ở thời nhà Lý thôi, mà còn cho cả đến ngàn đời sau nữa.

Với triều Trần, thì vị vua vĩ đại nhất của triều đại (có thể là cả 2.000 năm lịch sử của dân tộc nữa?). Sau khi đã đánh bại hai cuộc xâm lăng của đế quốc Nguyên Mông, rồi đưa quốc gia Đại Việt phát triển rực rỡ trên mọi lĩnh vực. Sau cùng, cũng đã trở về ngôi chùa trên đỉnh núi Yên Tử, và khai mở suối nguồn tâm linh mới cho dân tộc (Thiền phái Trúc Lâm). Ngôi chùa Hoa Yên, nơi thiền sư Trần Nhân Tông ngồi tham thiền nhập định, đã gây xúc động cho một nhà thơ lớn đương thời bằng những câu thơ tuyệt đẹp như thế này:

Chim chóc (gọi) bạn, cắn hoa nâng cúng

Vượn bồng con (ghé) cửa nghe kinh

Nương am vắng Bụt hiện từ bi

Gió hiu hiu, mây nhè nhẹ;

Kề song thưa Thầy ngồi thiền định

Trăng vằng vặc, núi xanh xanh…

(Phú vịnh chùa Vân Yên – Huyền Quang)

Tình thương bao la của ngôi chùa của nước Đại Việt cũng đã từng an ủi cho những kẻ sa cơ thất thế. Thẩm Thuyển Kỳ, một danh sĩ đời Đường, bị đày sang Giao Châu, khi được trở về cố quốc rồi vẫn cứ nhớ mãi ngôi chùa đẹp bên sườn núi ở Hoang Châu (Thanh Nghệ Tĩnh):

Nhân trung xuất phiền não

Sơn hạ tức Già Lam

Tiểu giản hương vi sát

Nguy phong thạch tác am

Vòng não phiền ra khỏi

Dưới núi dựng Già Lam

Khe suối thơm là cảnh

Đá non cao là am.

(Yết Cửu Châu Sơn Tĩnh tự Vô Ngại thượng nhân)

Và nhất là nhà trí thức lớn của Trung Quốc này, đã ân hận vì không còn được đàm đạo về Phật Pháp với vị thiền sư Thông Tuệ trong ngôi chùa này:

Đệ tử ai vô thức

Y vương tích vị đàm

Siêu nhiên hổ khê tịch

Trích thọ hạ ư lam

Đệ tử hận mình dở

Phật Pháp chửa am tường

Qua khe hổ nhìn lại

Dưới cây sương khói lam.

Nước Trung Quốc, nhất là Trung Quốc dưới triều đại nhà Đường, có một nền văn minh rực rỡ nhất thời bây giờ, vậy mà Thẩm Thuyển Kỳ lại ân hận và nuối tiếc vì không còn được học Phật với vị thiền sư Giao Châu, một xứ sở vẫn được xem như là biên địa (tất nhiên là biên địa dưới cái nhìn của người Trung Quốc, vẫn cứ tự nhận mình là thiên triều). Từ đó ta có thể thấy được, là những ngôi chùa của quê hương không chỉ đưa dân tộc vươn lên thành một quốc gia độc lập có chủ quyền thôi, mà còn có sức mạnh tâm linh vĩ đại để cảm hóa những tâm hồn đang quằn quại trong đau khổ, dù họ đang là danh sĩ của một quốc gia có nền văn minh rực rỡ nhất của Đông Phương thời bấy giờ.

Có lẽ đó là lý do mà Trần Quang Triều cứ ôm mãi giấc mộng trở về nơi những ngôi chùa để tìm lại sức mạnh tâm linh này cho quê hương, mà ông có cảm giác rõ rệt rằng sức mạnh ấy đang mất dần giữa một xã hội chỉ biết chạy theo sức mạnh bên ngoài, là lợi danh và quyền lực.

Và việc Trần Quang Triều chọn ngôi chùa Quỳnh Lâm, ta lại càng thấy rõ ý nghĩa việc trở về đó của ông.

Theo giáo sư Nguyễn Huệ Chi trong bài Hiện tượng hội nhập văn hóa dưới thời Lý Trần, nhìn từ một trung tâm Phật giáo tiêu biểu: Quỳnh Lâm,[9] thì người thứ nhất đến với chùa Quỳnh Lâm không được ghi trong danh sách nhưng lại được nhiều truyền thuyết dân gian lưu lại, là thiền sư Không Lộ của đời Lý. Chính tại nơi chùa Quỳnh Lâm này mà Không Lộ lại còn có một cái tên khác nữa cũng đã đi vào truyền thuyết dân gian rất có ý nghĩa, tên là Nguyễn Minh Không. Đó là chuyện Nguyễn Minh Không mang một túi khổng lồ, thu gom đồng của Trung Quốc đem về nước đúc nên “An Nam tứ khí” mà tượng Phật chùa Quỳnh Lâm có trong 4 tứ khí đó. Khi bàn về truyền thuyết này, giáo sư Nguyễn Huệ Chi viết: “Lời gởi gắm sâu kín trong câu chuyện có giá trị như một ước nguyện sâu xa của nhiều đời, một sự nhắc nhở lâu dài đối với thế hệ con cháu, mà đến nay xem ra vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự[10].

Người thứ hai sau thiền sư Không Lộ, là Pháp Loa thiền sư đệ nhị tổ của thiền Trúc Lâm đời Trần, một người rất có đầu óc tổ chức. Chính Pháp Loa đã biến ngôi chùa Quỳnh Lâm thành Quỳnh Lâm thiền viện, quy mô và bề thế. Và cũng chính tại thiền viện Quỳnh Lâm này mà Pháp Loa đã cho khắc in Đại Tạng Kinh, mở các buổi thuyết giảng về thiền cho các tăng sĩ thuộc giáo hội Trúc Lâm.

Người quan trọng thứ ba của quỳnh Lâm là Trần Quang Triều. Bởi cái tên Quỳnh Lâm trong lịch sử không phải chỉ bao gồm có 2 phần, Quỳnh Lâm tự và Quỳnh Lâm thiền viện, mà còn bao gồm một phần thứ 3 nữa, đó là Bích Động Am, mà đã nói đến Bích Động Am hẵn không ai không biết chính nơi đây đã hình thành một thị xã nổi tiếng, đã từng tổ chức những cuộc đàm đạo thơ văn lôi cuốn hầu hết những học giả, nhà thơ có tên tuổi nhất thời bấy giờ. Thi xã có tên là Bích Động, và người đứng đầu thi xã không ai khác hơn chính là Trần Quang Triều.

Chính trong thời gian này, thiền viện Quỳnh Lâm cũng đã mở cửa đón tiếp một nhà Nho thông thái, một nhà Nho nổi tiếng vì đã liên tiếp chỉ trích Phật giáo. Trong Đại Việt Sử Ký toàn thư  chép rằng, vua Trần Minh Tông đã cử Trương Hán Siêu về đây giữ chức giám tự. Sử liệu không cho biết là Trương Hán Siêu đã tự nguyện về hay bị triều đình bắt buộc phải về để “cải tạo” tư tưởng bài Phật một cách cực đoan của ông.

Nhưng trong bài thơ Dục Thúy Sơn (Núi Dục Thúy) được sáng tác vào cuối đời, trong đó Trương Hán Siêu đã ghi lại cảm giác hoan lạc của lòng mình khi đứng trên trên núi Dục Thúy nhìn đất trời bao la:

Sơn sắc thượng y y

Du nhân hồ bất quy?

Trung lưu quang tháp ảnh

Thượng giới khải nham phi

Non xanh xanh vẫn như xưa

Du nhân đi mãi vẫn chưa thấy về!

Sống in bóng tháp Bồ Đề

Mở toang cửa động liền kề chân mây.

(Trần Văn Giáp dịch)

Thực ra, cảnh tượng bao la và hùng vĩ của đất trời đó, ta phải hiểu là Trương Hán Siêu muốn ám chỉ đến tư tưởng Phật Giáo, một tư tưởng vĩ đại như vậy mà trước đây vì cố chấp, có thể cũng là lòng ganh tỵ hẹp hòi của một nhà Nho, nên ông đã lỡ bài xích một cách bất công, nên nay Trương Hán Siêu cảm thấy ân hận vô cùng:

Phù thế như kim biệt

Nhàn danh ngộ tạc phi

Đời lênh đênh trước khác nay

Thân nhàn mới biết trước ngày lầm to.

(Trần Văn Giáp dịch)

Không còn hồ nghi gì nữa, chính tư tưởng tự do, bao dung và vô chấp của Phật Giáo được thể hiện qua các thiền sư và cư sĩ học giả Phật Giáo tại chùa Quỳnh Lâm mới thuyết phục được một nhà Nho có tầm cỡ lớn như Trương Hán Siêu, cuối cùng cũng phải trở về với Phật Giáo vậy!

Còn Trần Quang Triều? Ông đã đến nơi mà suốt cả đời ông vẫn khao khát trở về đó chưa?

Tâm khôi oa giấc mộng

Bộ lý đáo Thiền đường

Xuân vãn hoa dung bạc,

Lâm u thiền vận trường

Vũ thu thiên nhất bích

Thi tịnh nguyệt phân lương

Khách khứ Tăng vô ngữ

Tùng hoa mãn địa hương

Lòng nguội lạnh với giấc mơ sừng con sên

Dạo bước đến cửa Thiền.

Xuân muộn, dáng hoa mỏng mảnh,

Rừng sâu, tiếng ve ngân dài

Mưa tạnh, trời xanh biếc một màu

Ao trong, trăng mát dịu tỏa xuống.

Khách ra về, Sư chẳng nói

Mặt đất thơm ngát mùi hoa thông.

(Đề Gia Lâm tự)

Vậy là Trần Quang Triều đã đến nơi mà suốt cả đời ông vẫn khát khao trở về đó rồi! Vì suốt cả bài thơ, ta nghe ra được một niềm vui như bất tận của Trần Quang Triều. Dù nơi này, đất và trời vẫn vắng lặng và tịch mịch như tự bao giờ (khách khứ tăng vô ngữ) nhưng trước mắt là một màu xanh ngắt (thiên nhất bích), và mặt đất dưới bước chân người vừa mới trở về dường như thơm ngát một mùi hương (tùng hoa mãn địa hương).

 

[1] Thơ văn Lý Trần, tập 2, Nxb KHXH, Hà Nội 1988, tr. 610.

[2] Thơ văn Lý Trần, tập 2, Nxb KHXH, Hà Nội 1988, tr. 609.

[3] Tạp chí văn học số 4/1992, Hà Nội 1992, tr. 19.

[4] Thơ văn Lý Trần, tập 2, Nxb KHXH, Hà Nội 1988, tr. 609.

[5] Thơ văn Lý Trần, tập 2, Nxb KHXH, Hà Nội 1988, tr. 616.

[6] Sđd.

[7] Sđd, tr. 611.

[8] Tạp chí văn học số 4/1992, Hà Nội 1992, tr. 18.

[9]Tạp chí văn học số 4/1992, Hà Nội 1992, tr. 14.

[10] Tạp chí văn học số 4/1992, Hà Nội 1992, tr. 16.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s